[Đăng ngày: 22/02/2017]

BẢO TỒN, PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở HUYỆN TRONG CHIẾN LƯỢC LIÊN KẾT VÙNG VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ KHU VỰC.


VĂN HÓA LÀ SỨC MẠNH TRƯỜNG TỒN CỦA MỘT DÂN TỘC.

     Văn hóa là sức mạnh trường tồn của một dân tộc là đặc trưng của mỗi quốc gia, nếu chúng ta mất đi bản sắc văn hóa thì xã hội đó sẽ kém phát triển. Thực hiện phong trào toàn dân xây dựng đời sống văn hóa cơ sở sẽ tạo điều kiện để các mặt của đời sống văn hóa thâm nhập vào mỗi người dân. Vì vậy, bản sắc văn hóa truyền thống là thành tố quan trọng của các dân tộc cần phải giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống riêng biệt của từng dân tộc mình. Qua đó, mỗi nét văn hóa đặc sắc sẽ được khôi phục, bảo tồn và phát huy giá trị trong thời gian đến.
     Di sản văn hóa dân tộc thiểu số là những giá trị vật chất và tinh thần được tích tụ, gìn giữ trong toàn bộ quá trình lịch sử phát triển của dân tộc thiểu số, là bộ phận cấu thành quan trọng của văn hóa dân tộc thiểu số. Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống dân tộc thiểu số có ý nghĩa thực tiễn vô cùng quan trọng:
      Thứ nhất, bảo tồn di sản văn hóa dân tộc thiểu số để thúc đẩy sự phát triển. Văn hóa dân tộc thiểu số được xây dựng trên nền tảng lâu đời không ngừng phát huy những giá trị văn hóa truyền thống. Di sản văn hóa dân tộc thiểu số ghi lại quá trình phát triển lịch sử của các dân tộc, biểu hiện sự kết tinh trí tuệ dân tộc và văn hóa đặc sắc. Cùng với sự phát triển của thời đại, tuy một số văn hóa truyền thống thay đổi không ít, thậm chí một số nội dung do không còn phù hợp với thời đại mà dần dần tiêu vong, nhưng phần tinh hoa bao hàm trong đó sẽ không ngừng phát triển để thích ứng với yêu cầu của thời đại mới, được quần chúng trong dân tộc đó kế thừa, trở thành động lực tinh thần thúc đẩy phát triển.
      Thứ hai, bảo tồn di sản văn hóa dân tộc thiểu số làm phong phú kho tàng văn hóa Việt Nam, lưu giữ tính đa dạng của văn hóa thế giới. Thời kỳ toàn cầu hóa, văn hóa truyền thống, trong đó bao gồm di sản văn hóa dân tộc thiểu số, đều chịu tác động ở những mức độ khác nhau, có cái đang đứng trước nguy cơ biến mất, nhưng cũng có cái đã mất đi trước khi nhận thức, phát hiện ra nó. Với một địa phương có khoảng 15 dân tộc cùng sinh sống, nên việc bảo tồn di sản văn hóa dân tộc thiểu số không chỉ làm phong phú kho tàng văn hóa dân tộc mà còn có cống hiến quan trọng duy trì sự đa dạng của văn hóa các dân tộc trong cả nước.
      Thứ ba, việc bảo tồn di sản văn hóa dân tộc thiểu số góp phần bảo đảm quyền lợi của văn hóa dân tộc thiểu số, là một trong những nội dung quan trọng của vấn đề bảo vệ nhân quyền cho dân tộc thiểu số, từng bước xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc trên địa bàn và trong cả nước . Làm tốt công việc bảo tồn di sản văn hóa dân tộc thiểu số là phương pháp hữu ích để chống lại âm mưu diễn biến hòa bình, phá hoại, chia rẽ dân tộc dưới vỏ bọc nhân quyền của các thế lực thù địch.
      Thứ tư, bảo tồn di sản văn hóa dân tộc thiểu số nhằm tăng cường khai thác nguồn tài nguyên văn hóa, thúc đẩy phát triển kinh tế khu vực dân tộc thiểu số. Hiện nay, hoạt động du lịch văn hóa có sự kết hợp giữa doanh nghiệp và nhà nước ở các khu vực dân tộc thiểu số nhằm thúc đẩy ngành du lịch phát triển, thậm chí trở thành ngành chủ chốt của địa phương. Việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống cảu các dân tộc Raglai, Ê đê, T’Rin . . . đảm bảo cho tài nguyên du lịch văn hóa có thể phát triển bền vững, từ đó thúc đẩy kinh tế vùng phát triển, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân địa phương.
     Với ý nhĩa và tầm quan trọng của việc bảo tồn và phát huy những giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp của từng dân tộc trong cả nước, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (Nghị quyết số 33-NQ/TW) về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”. Xác định tầm quan trọng của Nghị quyết và tình hình thực tiễn nhu cầu đặt ra trong tình hình mới về xây dựng và phát triển văn hóa và con người Việt Nam, Huyện ủy Khánh Vĩnh đã xây dựng chương trình hành động số 26-CTr/HU ngày 12/12/2014 của Huyện ủy về thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW nhằm cụ thể hóa các mục tiêu để thực hiện hiệu quả Nghị quyết Trung ương 9 (khóa XI) đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững vừa phù hợp với thực tiễn, vừa giữ được nét truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn hiện nay. Đây là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiến tiến đậm đà bản sắc dân tộc, làm nền tảng tinh thần của xã hội, tạo động lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương, làm cho nền văn hóa từng bước thấm sâu vào nếp ăn, nếp nghĩ ở từng khu dân cư, từng gia đình và của mỗi con người.

VIỆC BẢO TỒN CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI ĐỊA PHƯƠNG.

      1. Về thành phần dân tộc.
     Huyện Khánh Vĩnh có 15 dân tộc anh em cùng sinh sống, dân số tính đến tháng 12/2015 (niêm giám thống kê 2015) có 37.809 người, trong đó: dân tộc Kinh là 9.875 người, chiếm tỉ lệ 26,12% và các dân tộc thiểu số là 27.934 người, chiếm tỉ lệ 73,88%, gồm: dân tộc Raglai 18.289 người, T’Rin 5.353 người, Ê Đê 1.769 người, Tày 1.439 người, Nùng 728 người, Mường 247 người và các dân tộc: Dao, M’Nông, Thái, Hoa, Chăm, Thổ, H’Rê, Khơ Me là 109 người. Các dân tộc trên địa bàn huyện mặc dù có khác nhau về phong tục, văn hóa truyền thống nhưng thắm tình đoàn kết, giao lưu, gắn bó với nhau thành một khối thống nhất, cùng nhau xây dựng huyện miền núi Khánh Vĩnh vươn lên xóa đói giảm nghèo, đẩy lùi các tập tục lạc hậu, tiến tới cuộc sống văn minh, ấm no, hạnh phúc.
     2. Việc bảo tồn, phát huy di sản văn hóa truyền thống của dân tộc thiểu số.
     Với nhiều thành phần dân tộc sinh sống đã tạo nên một nền văn hóa phong phú về bản sắc và đa dạng về loại hình như tiếng nói, chữ viết, sử thi, ca dao tục ngữ, dân ca, dân vũ, phong tục tập quán, lễ hội truyền thống… Tuy nhiên, bởi sự tác động của nhiều trào lưu văn hóa ngoại lai trên nhiều phương tiện truyền thông, cộng thêm lối sống đua đòi, chịu sự tác động của cơ chế kinh tế thị trường nên giới trẻ đồng bào dân tộc thiểu số chưa nhận thức đầy đủ trong việc bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình nên không còn thường xuyên duy trì các hoạt động văn hóa truyền thống. Vì thế, những bản sắc phong tục tập quán, trang phục, các làng nghề truyền thống, các làn điệu dân ca, tiếng nói, chữ viết đang dần mai một và mất đi trong đời sống sinh hoạt hàng ngày. Các trang phục truyền thống, làn điệu dân ca, dân vũ, lễ hội văn hóa truyền thống, biểu diễn Mã la, các nhạc cụ của đồng bào dân tộc chỉ được tái hiện khi cơ quan Nhà nước tổ chức.
     + Các nhà sàn truyền thống của các dân tộc chỉ còn rải rác của đồng bào dân tộc Ê đê tại xã Khánh Hiệp (khoảng dưới 10 cái) nhưng kết cấu đã bị cải biến phần nào so với nhà truyền thống và gần bị hư hỏng. Thay vào đó là các nhà sinh hoạt cộng đồng tại các thôn trên địa bàn huyện
     + Nghề thủ công truyền thống của đồng bào dân tộc Raglai, Ê đê, T’rin trước đây sản xuất chủ yếu để phục vụ trồng trọt, chăn nuôi, săn bắn và phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày như: gùi, nỏ, nong, nia, rổ, đơm cá, chum, vại , rìu, rựa, chà gạc, gậy chọc lỗ, ché rượu, đàn Chapi, dệt của dân tộc Ê đê...Nhưng hiện nay những sản phẩm thủ công này dần bị mai một, còn rất ít người biết làm và sử dụng.
     + Ẩm thực của đồng bào dân tộc Raglai, Ê đê, T’rin săn bắt thú rừng, chim, cá ở các con suối góp phần đáng kể để cải thiện đời sống kinh tế. Ngày nay, những cách rừng già bạt ngàn đã bị hẹp đáng kể, thú rừng ngày càng khan hiếm. Từ lâu, đồng bào dân tộc đã biết chăn nuôi gia cầm, gia súc lấy thịt để làm thức phẩm cho gia đình. Hoạt động sản xuất nông nghiệp chủ yếu là làm nương rẫy theo phương pháp cổ truyền: Đốt rừng làm rẫy, chọc lỗ trỉa hạt lúa, bo bo, cao lương, kê, bắp, trồng xen canh với các loại hoa màu như: rau, khoai mì, khoai chụp, bầu, bí, dưa gang, đậu và các loại cây ăn trái nh¬ư mít, đu đủ, chuối, khóm. Hiện nay, đồng bào dân tộc Raglai, Ê đê, T’rin vẫn giữ được những món ăn truyền thống của dân tộc như: canh Bồi, thịt xào cà đắng, hoa đu đủ xào, lá sắn xào, rượu cần...Đây là những món ăn được đồng bào chế biến hàng ngày và những món không thể thiếu như: thịt nướng, thịt hun khói khi gia đình có khách quý đến nhà; lễ hội của cộng đồng dân tộc.
     + Trang phục truyền thống:
     * Đối với dân tộc Raglai: Trước đây, người nữ mặc cà chăn/váy màu đen có từ 5 đến mười đường hoa văn vòng quanh từ gấu váy lên ngang gối; vòng hoa văn dưới cùng màu đỏ, các vòng bên trên màu trắng. Người Raglai có loại áo chui đầu (gọi theo kiểu dáng); còn được gọi là áo khoang (gọi theo màu sắc - vì thân áo và ống tay áo gồm hai màu trắng đen xen kẽ nhau thành từng khoang từ dưới lên). Áo chui đầu có nguồn gốc từ những chiếc áo làm bằng hai mảnh vỏ cây từ thuở con người chưa biết trồng bông dệt vải. Từ kiểu áo chui đầu, về sau người Raglai sáng tạo ra loại áo xẻ thân trước thành hai vạt, riêng áo nữ có gài nút bên dưới ngực. Đồ trang sức của nữ có vòng đeo cổ tay, vòng đeo cổ, các loại vòng cườm, bông tai bằng đồng thau hay bằng bạc; người nam mặc cà giọt/khố và áo khoang, lưng buộc dây thắt lưng. Cả nữ và nam đều có khăn quấn đầu. Ngoài trang phục sử dụng thường ngày cho từng giới còn có trang phục lễ hội, trang phục cho từng đối tượng khác nhau trong xã hội. Đến nay, trang phục của đồng bào Raglai không được các giới trẻ chú trọng, chỉ còn một số ít người già, lớn tuổi còn giữ lại trang phục nhưng cũng đã bị biến đổi so với trang phục ban đầu.
      * Đối với dân tộc Ê đê: Trang phục cổ truyền là màu chàm, có điểm những hoa văn sặc sỡ. Phụ nữ mặc áo, quấn váy. Đàn ông đóng khố, mặc áo. Đồng bào ưa dùng các đồ trang sức bằng bạc, đồng, hạt cườm. Hiên nay, trang phục của đồng bào Ê đê vẫn được giữ gìn ở một số gia đình, tuy nhiên, trang phục truyền thống chỉ được mặc khi có lễ hội của dân tộc hoặc được mặc khi tham gia biểu diễn nghệ thuật quần chúng.
     * Đối với dân tộc T’rin: (Dân tộc T’rin là một nhánh của dân tộc Cơ Ho hay còn gọi là Cơ Ho String ở tỉnh Lâm Đồng) Đàn ông mặc khố bằng vải bản rộng, dài khoảng 1,5 – 2 m, có hoa văn theo dải dọc. Phụ nữ dùng váy bằng một tấm vải quấn quanh người rồi giắt cạp. Váy nền đen, có điểm hoa văn trắng. Nếu thời tiết lạnh, họ khoác thêm chăn (ùi) ra ngoài. Phụ nữ dùng vòng cổ, vòng tay, cườm và khuyên căng tai làm đồ trang sức. Từ khi di cư, sinh sống tại huyện Khánh Vĩnh (sống tập trung ở xã Cầu Bà, Giang Ly, Sơn Thái) đã không còn mặc trang phục đặc trưng của dân tộc mà trang phục chủ yếu là mặc váy, áo, khăn quấn đầu của dân tộc Raglai và bị ảnh hưởng trang phục của người Kinh.
     + Tiếng nói, chữ viết:
Hầu hết các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Khánh Vĩnh đều có tiếng nói riêng nhưng hiện nay tiếng nói cũng đang có xu hướng bị mai một cần được bảo tồn, gìn giữ. Chỉ có dân tộc Raglai đang phục hồi, đến nay đã tổ chức được 10 lớp học chữ-tiếng Raglai cho đối tượng là cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên trên địa bàn huyện nhưng chất lượng sau khi đào tạo vẫn còn hạn chế. Đa phần cán bộ, công chức, viên chức người Kinh không hiểu được tiếng dân tộc thiểu sốt.
     + Tôn giáo, tín ngưỡng:
     * Đối với dân tộc Raglai: Người Raglai theo tín ngưỡng đa thần “vạn vật hữu linh”. Họ lấy tên đá, núi, cây rừng, con vật làm họ cho mình và xem như là một vị thần hộ mệnh. “Giàng” là vị thần linh vô hình tối cao nhất. “Giàng” có thể trợ giúp cho con người may mắn hoặc có thể mang tai họa đến cho con người vì vậy người Raglai thường thờ cúng “Giàng” để không bị trừng phạt chết và cầu cho mùa màng bội thu. Ngoài ra, họ còn thờ cúng các thần như: thần núi (Yang chớ), thần rừng (Yang gla glai), thần lúa (Yang Paday) ...
     Người Raglai cũng quan niệm người chết linh hồn tiếp tục “sống” ở thế giới bên kia, nên quanh mộ được trồng các cây chuối, mía, dứa, khoai môn và chia của cho người chết bằng những ché, chiêng, vỏ quả bầu khô, gùi đã đập vỡ hoặc làm rách, vì cho đó là đồ dùng của ma. Trên mộ dựng nhà mồ nhô lên những cột, trên các cột ấy khắc hình chiếc thuyền, chim dang cánh, bông lan… Khi đã có đủ điều kiện người ta tổ chức lễ nhang vàng tức là lễ cúng người chết lần cuối cùng sau đó bỏ mả hẳn (Lễ bỏ mả).
     * Đối với dân tộc Ê đê: Trong đời sống tâm linh, như nhiều dân tộc khác ở Tây Nguyên, người Ê đê coi Giàng (Trời) là đấng thần linh tối cao và từ xa xưa người Ê đê coi các sự vật, hiện tượng thiên nhiên có vị thần riêng như: thần mưa, thần núi, thần sông, thần rừng...và theo quan niệm của đồng bào, mỗi vật từ cỏ cây đến ngôi nhà, những chiếc cồng, chiêng…đều có hồn ở bên trong. Hiện nay, dân tộc Ê đê ở Khánh Vĩnh đa phần theo Đạo Thiên chúa và thường đến các nhà nhờ tại địa phương vào ngày chủ nhật.
     * Đối với dân tộc T’rin: Người T’rin tin rằng mọi mặt của đời sống đều do các thế lực siêu nhiên quyết định. Tín ngưỡng về siêu nhiên trong quan niệm của người T’rin có tính chất đa thần...Thần linh (Yang) là thế lực phù hộ cho con người vị và ma quỷ (chà) lại gây tai họa. Vị thần tối cao là Nđu, rồi có thần Mặt Trời, Mặt Trăng, thần Núi, thần Sông, thần Đất, thần Lúa...Họ cúng tế trong những dịp thực hiện hoặc xảy ra những sự kiện quan trọng (hiếu hỷ, những giai đoạn trong sản xuất, ốm đau bệnh tật...). Trong các nghi lễ cúng tế, tùy thuộc vào tầm quan trọng của buổi lễ họ dùng trâu, lợn, dê, hoặc gà để tế sống cùng với rượu. Bàn thờ thường đặt ở chỗ trang trọng và tôn nghiêm nhất trong nhà.
     + Lễ hội, trò chơi dân gian, dân ca, dân vũ:
      Hiện nay, lễ hội, trò chơi dân gian, dân ca, dân vũ của các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Khánh Vĩnh đang dần bị mai một. Các làn điệu dân ca, hòa tấu cồng chiêng, mã la; độc tấu nhạc cụ Đinh 5, đinh chót, hát Arai của dân tộc Êđê; Tấu nhạc cụ Salakhen, hát Ma Diêng, múa cong tua của dân tộc Raglai; Hát làn điệu Xú ri của dân tộc T’rin, hát then của dân tộc Tày…ít được nghe và tổ chức ở cộng đồng dân cư. Các lễ hội Cúng Bến nước của dân tộc Ê đê Khánh Hiệp, Lễ Ăn mừng Lúa mới của dân tộc Raglai thỉnh thoảng vẫn được đồng bào tổ chức.
     Trong những loại nhạc cụ truyền thống của người Rag Lai, Mã la được xem là nhạc cụ quan trọng tiêu biểu nhất. Dàn Mã la thường có 5 chiếc có khi là 4 hoặc 7, 9 hoặc 11 chiếc. Bộ mã la được người Raglai xem là gia đình mẫu hệ. Âm thanh mã la lúc bay bổng, lúc sâu lắng, lúc trầm buồn lúc lại dạt dào cảm xúc do vậy nó được xem như linh hồn của những lễ hội Raglai. Bởi vậy tại các lễ hội do người Raglai tổ chức như lễ cúng được mùa lúa mới, lễ báo hiếu cha mẹ, lễ cưới, lễ bỏ mả …không thể thiếu sự hiện diện của dàn mã la. Chính vì sự quan trọng như vậy nên mã la được xem như là một thứ tài sản quí, là linh hồn của người Raglai.

NGUYÊN NHÂN VÀ CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI ĐỊA PHƯƠNG TRONG CHIẾN LƯỢC LIÊN KẾT VÙNG VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ KHU VỰC.

     1. Nguyên nhân khách quan.
- Sự du nhập và tiếp cận các kiến thức, giá trị văn hóa đa dân tộc, đa quốc gia theo xu hướng phát triển dẫn đến nhiều loại hình văn hóa nghệ thuật có sức hấp dẫn, lôi cuốn đã làm mai một dần những giá trị văn hóa truyền thống giàu bản sắc của mỗi dân tộc.
- Cơ chế, chính sách quản lý văn hóa của Nhà nước chưa đi vào thực tiễn. Phương pháp,cách thức vận động, tuyên truyền chưa thiết thực để người dân nhận thức cần phải bảo tồn những nét văn hóa truyền thống.
- Sự tác động của nền kinh tế đối với giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số chưa có sự gắn kết hài hòa giữa quyền lợi kinh tế và trách nhiệm bảo tồn.
- Nhận thức của người dân theo xu hướng phát triển xã hội đánh đổi văn hóa mang bản sắc đặc trưng truyền thống của dân tộc bằng những biểu hiện của văn hóa ngoại lai
Nguyên nhân thực trạng trên chủ yếu là do có quá nhiều yếu tố bên ngoài tác động làm thay đổi thị hiếu, nhu cầu sử dụng trang phục truyền thống của đại bộ phận người dân. Đồng thời, cùng với xã hội hiện đại ngày nay, những phong tục tập quán, quan niệm cái đẹp xưa, ; Cơ sở vật chất và phương tiện phục vụ hoạt động văn hoá cho đồng bào còn thiếu thốn; Việc thể chế hoá các văn bản quản lý, một số cơ chế chính sách trong lĩnh vực văn hoá còn nhiều bất cập; ; Mức hưởng thụ văn hoá của nhân dân các dân tộc vùng cao, vùng sâu, vùng xa còn thấp.
     2. Nguyên nhân chủ quan:
- Ngại khó, tự ty, mặc cảm về bản thân trong quá trình giao lưu, hội nhập.
- Thiếu khả năng nhận định để văn hóa truyền thống mang yếu tố tích cực theo xu hướng hiện đại hóa. Chưa đủ bản lĩnh để đứng vững trước sự giao thoa của nhiều nền văn hóa ngoại lai du nhập vào, làm cho thị hiếu thay đổi, quan niệm về cái đẹp cũng thay đổi. Trong khi đó, văn hoá truyền thống của các dân tộc chưa được kiểm kê, chưa được đánh giá đầy đủ.
- Công tác bảo tồn, trùng tu, quản lý và phát huy giá trị văn hoá truyền thống chưa được quan tâm đúng mức.
- Lực lượng cán bộ làm công tác sáng tác, nghiên cứu văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số không thiếu nhưng những sản phẩm nghiên cứu đó chưa được cụ thể hóa vào thực tiễn đời sống văn hóa cho đồng bào dân tộc địa phương.
- Bị tác động của yếu tố tài chính nên nhiều sản phẩm văn hóa truyền thống như: Cồng, Chiêng, Mã la . . . không gìn giữ được. Trong khi đó khả năng tái tạo dường như không thể thực hiện được.
     3. Một số giải pháp để bảo tồn, phát huy di sản văn hóa truyền thống của dân tộc thiểu trong chiến lược liên kết vùng và hội nhập khu vực.
     Kế thừa, phát triển những quan điểm chỉ đạo và những định hướng lớn của Đảng được thể hiện trong Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” và những nội dung Văn kiện Đại hội XI của Đảng về văn hoá, Hội nghị Trung ương 9 khoá XI đã ban hành Nghị quyết về "Xây dựng và phát triển văn hoá, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước". Văn kiện Đại hội XII nhấn mạnh tư tưởng chỉ đạo: Các cấp, các ngành phải nhận thức đầy đủ và thực hiện có kết quả mục tiêu:
     +Xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học;
     + Làm cho văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".
Để thực hiện có hiệu quả việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống của các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Khánh Vĩnh cần tập trung thực hiện một số giải pháp chủ yếu sau:
     + Tiếp tục tăng cường nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền và các cơ quan liên quan trong việc thực hiện nhiệm vụ khoa học về văn hoá, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá đặc sắc của huyện; tổ chức thực hiện có hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hoá, quy hoạch, dự án phát triển văn hóa .
     + Xây dựng một lực lượng nhân sự có chuyên môn, am hiểu đặc điểm bản sắc văn hóa các dân tộc trên địa bàn để làm tốt công tác bảo tồn di sản văn hoá của các dân tộc; thống kê, lập hồ sơ các di sản văn hóa; khuyến khích tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân nghiên cứu, bảo quản, truyền dạy và giới thiệu di sản văn hóa. Đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động xã hội hoá trên lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật để có nhiều công trình, nhiều sản phẩm văn hoá đáp ứng nhu cầu của công chúng. Tôn vinh và có chính sách đãi ngộ đối với nghệ nhân, nghệ sĩ nắm giữ và có công phổ biến nghệ thuật truyền thống, bí quyết nghề nghiệp có giá trị đặc biệt.
     + Xây dựng chiến lược bảo tồn và phát huy các sản phẩm văn tuyền thống của các dân tộc thiểu số trên nền tảng kết hợp hài hòa giữa quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách quản lý của Nhà nước và chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp nhằm tạo động lực cho văn hóa phát triển.
     + Phối hợp với các địa phương để đăng cai tổ chức các lễ hội tái tạo các giá trị văn hóa của các dân tộc. Qua đó, các giá trị văn hóa truyền thống sẽ được xác định giá trị bảo tồn trong quần chúng nhân dân, phát huy nội lực để từng bước xây dựng thương hiệu, các sản phẩm làng nghề phục vụ tham quan, du lịch.
     + Tuyên truyền, vận động, phát huy vai trò giám sát của quần chúng nhân dân trong việc duy trì những phong tục tập quán lành mạnh của các dân tộc; phục hồi và phát triển các nghề thủ công truyền thống có giá trị tiêu biểu; khôi phục và nâng cao các lễ hội truyền thống, bài trừ hủ tục trong đời sống văn hóa của nhân dân; Làm tốt công tác tư tưởng nhằm chống lại các âm mưu “diễn biên hòa bình” của các thế lực thù địch lợi dụng chính sách phát triển văn hóa dân tộc để chống phá Đảng, Nhà nước.
     + Khơi dậy sức sáng tạo chủ động của nhân dân trong các hình thức sinh hoạt cộng đồng. Giữ gìn truyền thống văn hoá trong gia đình, trong làng, thôn, xóm tạo điều kiện cho quần chúng tiếp nhận thông tin về mọi mặt đời sống kinh tế xã hội và thực hiện quyền làm chủ của mình. Xây dựng và thực hiện quy ước văn hóa trên cơ sở kết hợp những yếu tố truyền thống tốt đẹp.
       Như vậy, bảo tồn và pháy huy văn hóa truyền thống dân tộc thiểu số là lực lượng quan trọng trong việc duy trì văn hóa dân tộc. Trong quá trình phát triển hiện đại hóa, những nhân tố văn hóa truyền thống không còn phù hợp với quy luật phát triển của xã hội, không thể duy trì cân bằng, thiếu hài hòa trong đời sống tự nhiên sẽ bị loại bỏ. Nâng cao ý thức sâu sắc trong việc bảo tồn các giá trị của văn hóa dân tộc thiểu số, nhận thức được giá trị to lớn của chúng trong việc bù lấp khoảng trống đời sống tinh thần của con người, làm nổi bật đặc sắc văn hóa của mỗi dân tộc, khiến chúng duy trì được sức sống và phát triển bền vững, đồng thời bao dung văn hóa ngoại lai, cùng chung sống hài hòa với những nền văn hóa khác. Để thực hiện tốt hơn hết mục tiêu này, chúng ta cần nhận thức thật rõ vai trò của chủ thể văn hóa dân tộc thiểu số để “khơi dậy tinh thần, văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc... Chính họ sẽ là người viết từng trang lịch sử tiếp theo của dân tộc mình trong chiến lược phát triển kinh tế vùng và hội nhập khu vực .

Một số hình ảnh minh họa


Hội trại các trường dân tộc nội trú trong toàn tỉnh

Tiềm năng du lịch

Tham gia nghệ thuật quần chúng tỉnh Khánh Hòa

Lễ cúng bến nước của người Ê đê

Ngọc Cường - VHTT

 

Báo giá bếp từ nhập khẩu, Khuyến mãi Bep tu am nhập khẩu, Showroom May rua bat am tu giá rẻ, Giá bep tu duc siêu bền,








Độ ẩm:
Sức gió:

Đang online: 55

Số lượt truy cập: 850818